thư mục truy cập

ĐANG TRUY CẬP

1 khách và 0 thành viên

Thống kê truy cập

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • TRA TỪ ĐIỂN


    Tra theo từ điển:



    TƯ LIỆU TỔNG HỢP

    Kim_tu_thap_con_duong_den_KQ_day_hoc.bmp Thiep_bui_phan.swf Phuc.jpg Nhagiao07.jpg Nhagiaovietnam.swf Giatrimotchut.jpg Co_To_Quoc.swf DH_hoa_hong_VMai.swf Tranh_thuong_Hai_nen_xanh.swf Mua_Xuan_Nho_Nho1.swf Timbay.gif

    Khảo sát ý kiến

    Học môn Văn khó hay dễ, các con HS
    Môn khó
    Môn hơi khó
    Cảm thấy bình thường
    Môn này hơi dễ
    Môn này dễ

    THẦY HIẾU CHUYÊN ÔN TẬP, CỦNG CỐ KIẾN THỨC 6,7,8. ÔN THI 9 VÀO 10 HN
    Gốc > ÔN THI HỌC SINH GIỎI >

    Một số Đề - Đáp án tham khảo của các trường, các Trại hè lớn

    Trường THPT chuyên  Hùng Vương 

            Đề thi trại hè Hùng Vương

    Môn Ngữ Văn

    Thời gian: 180 phút

    I.Đề bài:

    Câu 1(8 điểm):

        Nhiều nhà xã hội học nước ngoài đến nghiên cứu ở ViệtNamđều cho rằng: “Những mặt yếu của tuổi trẻ ViệtNamlà sĩ diện, thiếu bản lĩnh, xa rời thực tế, giờ giấc lỏng lẻo”

       Anh (chị) suy nghĩ như thế nào?

     

    Câu 2 (12 điểm):

    Chỉ ra nét riêng và nét tương đồng về cảm hứng nhân đạo trong các đoạn trích  “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” (Chinh phụ ngâm), “Nỗi sầu oán của người cung nữ” (Cung oán ngâm), “Nỗi thương mình” (Truyện Kiều).

     

    II.Yêu cầu:

    1.Câu 1:

    *Yêu cầu về kĩ năng:

    -HS biết cách làm một bài NLXH: nghị luận về một hiện tượng xã hội, cuộc sống

    -Biết phối hợp nhuần nhuyễn các thao tác lập luận: giải thích, chứng minh, bình luận

    -Văn viết chặt chẽ, sắc sảo, lập luận thuyết phục, có sáng tạo

    *Yêu cầu về kiến thức:

    HS cần nhận thức được đây là một bài NLXH dạng mở: người viết cần đưa ra được những suy nghĩ riêng về hiện tượng xã hội đó

    -Giải thích, chứng minh:

    + Sĩ diện (hình thức chủ nghĩa): Hay xấu hổ, không muốn mọi người biết mình học kém, biết mình nghèo, biết gia đình mình ở nông thôn. Trong các mối quan hệ, trong giao tiếp hay giấu dốt, những điều mỡnh không biết không tự nhận là không biết mà hay núi quanh co hoặc nói chệch hoặc đánh trống lảng. Thích phô trương, khoe khoang, thậm chí cả khoe khoang những điều mình không hoặc chưa có. Không ít sinh viên tốt nghiệp chưa kiếm được việc đó vội vàng xin đăng ký học để lấy bằng thứ hai mà không biết để làm gỡ. Chưa có nhu cầu, đó mua ngay máy tính, máy ảnh...

    + Thiếu bản lĩnh: Không đi sâu vào một lĩnh vực nào đầy đủ, do đó bước vào cuộc sống thường thiếu tự tin khi gặp bất kỳ một vấn đề gì không dám đặt ra hoặc phản biện bất kỳ một vấn đề gỡ, không dám tham gia đấu tranh phê bình, không dám chủ động đề xuất. Khi gặp khó khăn thì đùn đẩy cho nhau, sợ trách nhiệm, sợ nhận những nhiệm vụ nặng nề.
    + Xa rời thực tế: Ước mơ, hoài bão là một tính cách tốt của thanh niên nhưng đã có không ít người có những suy nghĩ viển vông, xa rời cuộc sống, xa rời những điều kiện hiện có. Ngồi ở cơ quan, ngồi trong nhà mình mà cứ như ngồi trên mây. Nhiều ý kiến, nhiều vấn đề đặt ra không được đa số đồng tình.
    + Giờ giấc lỏng lẻo: ý thức về thời gian không nghiêm túc, không coi trọng tiết kiệm thời gian, không coi trọng những quy định về thời gian. Trong nhiều những cuộc họp, những buổi sinh hoạt, có không ít thanh niên đi chậm, thậm chí chậm hàng tiếng đồng hồ. Mặt khác cũng có những thanh niên lại đi sớm rất nhiều giờ để chơi bởi, tán gẫu vô tích sự

    -Bình luận:

    +Lớp trẻ cần nhìn nhận rõ những hạn chế của mình, thấy được những tác động tiêu cực do những suy nghĩ và thói quen đó gây nên.

    +Thế hệ trẻ cần ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước: họ cần phải đổi mới tư duy và hành động để vươn đến vị trí làm chủ cuộc đời mình và làm chủ đất nước.

    +Tuổi trẻ cần tự rèn luyện và giúp nhau điều chỉnh nâng cao phẩm chất. Nhà trường và các tổ chức xã hội cũng phải cú trách nhiệm đầy đủ trong việc giúp lớp trẻ tu dưỡng, nâng mình lên.

    *Khuyến khích những bài viết có sự sáng tạo trong cách nghĩ, cách lập luận miễn là hợp lí, thấu đáo.

    2.Câu 2:

    *Yêu cầu về kĩ năng:

    -HS biết cách làm một bài NLVH

    -Biết phối hợp nhuần nhuyễn các thao tác lập luận: giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận

    -Văn viết chặt chẽ, sắc sảo, lập luận thuyết phục, có sáng tạo

    *Yêu cầu về kiến thức:

    Ba đoạn trích của ba tác giả khác nhau, viết về những thân phận khác nhau, nhưng đều viết về người phụ nữ nên vừa có nét riêng, vừa có nét tương đồng.

    -Nét riêng:

    +Chinh phụ là người phụ nữ thuộc tầng lớp quý tộc, điều này được thể hiện rất rõ qua phong cách sinh hoạt của nàng: đốt hương, soi gương, gảy đàn. Cuộc sống vật chất an nhàn, sung sướng, địa vị xã hội được tôn trọng nhưng đời sống nội tâm thì đầy bi kịch. Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm xót thương cho thân phận cô đơn, bị chia lìa hạnh phúc lứa đôi, chôn vùi tuổi xuân trong sự chờ đợi mòn mỏi, tuyệt vọng của nàng, đồng thời lên án chiến tranh phi nghĩa.

    +Sống trong lầu vàng, trăng trong, nhưng thân phận người cung nữ hiện lên hết sức bi thảm. Bị bỏ rơi mà nàng đâu được buông tha. Người cung nữ hết ngày lại đêm cứ phải đứng tủi ngồi sầu, khắc khoải ngóng chờ vô vọng. Người cung nữ ý thức rất rõ kẻ gây ra tai hoạ khủng khiếp cho đời mình. Theo nàng, người ta giết mình không phải bằng gươm sắc mà bằng cách kéo dài cuộc sống đày ải trong cảnh chăn đơn gối chiếc, cửa mốc sân rêu. Với niềm đồng cảm sâu sắc, Nguyễn Gia Thiều đã thể hiện thân phận người cung nữ sống trong một cảnh ngộ bị chà đạp đến mức nghẹt thở. Qua đó tác giả tố cáo chế độ phong kiến thối nát và bày tỏ thái độ phản kháng mãnh liệt của mình.

    +Thuý Kiều vốn là tiểu thư khuê các sống trong cảnh “Êm đềm trướng rủ màn che” nhưng xã hội đã xô đẩy nàng vào cuộc sống nhơ nhớp chốn lầu xanh. Trong đoạn trích “Nỗi thương mình”, chúng ta nhận ra nỗi đau khổ chồng chất của nàng, thân xác bị vùi dập phũ phàng: “Mặt sao dày gió dạn sương/ Thân sao bướm chán ong chường bấy thân” còn tâm hồn thì cô đơn, đau đớn, tủi hổ, bẽ bàng: “Những mình nào biết có xuân là gì”, “Ai tri âm đó mặn mà với ai?”. Nguyễn Du xót thương nàng cũng là bênh vực cho nhân phẩm của nàng, xót xa cho số phận những người kĩ nữ.

    -Nét tương đồng:

    Cảm hứng nhân đạo của các tác giả cùng gặp nhau ở một điểm. Đó là sự khẳng định ý thức cá nhân, đề cao quyền sống cá nhân. Các nhân vật chính diện ở đây đều ý thức sâu sắc về cuộc sống bi kịch của chính họ, đều khao khát cuộc sống hạnh phúc trong tình yêu, hôn nhân cũng tức là khẳng định quyền sống cho mỗi con người.

    + Thế giới nội tâm của con người vốn vô hình nhưng đã được tác giả Đặng Trần Côn và dịch giả Đoàn Thị Điểm miêu tả trở nên cụ thể, rõ nét.  Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ được chiếu ứng trong sự cảm nhận về thời gian đợi chờ đằng đẵng, không gian trống vắng vây bủa bốn bề và cuộc sống hoá thành vô vị, mất hết sinh khí. Trên tất cả là tâm trạng cô đơn và sự ý thức về thảm trạng mất đi niềm tin, đánh mất niềm vui sống và mối liên hệ gắn bó với cuộc đời rộng lớn. Trạng thái tình cảm đó nói lên tiếng nói tình cảm và sự ý thức về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ ngay giữa cuộc đời trần thế này.

    +Người cung nữ rơi vào trạng thái tâm lí cô đơn, thất vọng, chán chường đến tận cùng. Tâm trạng con người cá nhân chỉ còn biết cô đơn sống với "chiếc bóng", "một mình", "hoa này", "cái buồn này", "xe thế này có dở dang không?", một cá nhân tự ý thức về "con người thừa", sự vô vọng, đánh mất bản ngó và nỗi buồn hàm chứa những nuối tiếc, bực dọc, day dứt, bất bình. Thấp thoáng đằng sau tiếng nói bi kịch của người cung nữ là ý thức  mơ hồ nghĩ về quyền sống làm người, quyền được hưởng hạnh phúc và ước vọng một cuộc đổi thay.

    +Thuý Kiều ý thức sâu sắc về cuộc sống đau khổ của mình: Trong hoàn cảnh tủi nhục, nàng vẫn luôn luôn muốn được sống thực với chính mình, sống với con người mình. Nàng ý thức rõ rệt sự đối lập khốc liệt giữa quá khứ và hiện tại và bản thân cuộc sống hiện tại, Thuý Kiều cũng ý thức được đó là sự đối lập bẽ bàng. Đó cũng chính là sự ý thức sâu sắc về phẩm giá, nhân cách bản thân, quyền sống bản thân, khao khát muốn thoát khỏi cuộc đời kĩ nữ đau khổ

     èĐây là tư tưởng nhân đạo vượt thoát khỏi sự chật hẹp của xã hội phong kiến để vươn tới tầm nhân loại, cũng là sự gặp nhau giữa những tâm hồn lớn của các tác gia văn học trung đại Việt Nam.     

                                                                            Phạm Thuỳ Dương

    Giáo viên trường THPT Chuyên Hùng Vương

                                                                             Việt Trì - Phú Thọ

     

    Đề thi đề xuất Olimpic Hùng Vương- Chuyen Lao Cai

     

    Đề bài:

    Câu 1: (8 điểm)

    Anh/chị suy nghĩ gì về ý kiến: “Mỗi ngày là một món quà mà cuộc sống đã ban tặng cho chúng ta.”

    Câu 2: (12 điểm)

    Khi đọc “Bảo kính cảnh giới” (Số 43) và “Cây chuối” của Nguyễn Trãi, nhà nghiên cứu văn học Lã Nhâm Thìn nhận xét đại ý: Có lẽ chỉ cần thưởng thức hai thi phẩm này, chúng ta đã có thể hiểu được một cách sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn thi nhân.

       Đến với hai tác phẩm trên, anh/chị có đồng tình với nhận xét của nhà nghiên cứu không?

     

    Đáp án:

     

    Câu 1 ( 8 điểm):

    1. Về kiến thức:

    a. Giải thích:

         Giải thích nội dung ý nghĩa của ý kiến: “Mỗi ngày là một món quà mà cuộc sống đã ban tặng cho chúng ta”.

          Mỗi ngày là chỉ thời gian. Về nghĩa đen thì đó là thời gian vật lí, là giây phút, ngày tháng, là cuộc đời của mỗi con người. Nhưng ở đây, thời gian không chỉ mang ý nghĩa đó mà đã chứa đựng một giá trị triết lý và nhân văn sâu sắc: thời gian “là một món quà”, chứa đựng trong đó giá trị cuộc sống của mỗi con người.

         Ý kiến trên bằng cách diễn đạt hình ảnh muốn nhấn mạnh và khẳng định giá trị và ý nghĩa của thời gian đối với cuộc sống của mỗi con người. 

    b. Bình luận:

      - Con người sống trên thế gian này không thể tách rời không gian và thời gian. Đó là hai thuộc tính của vật chất nói chung, con người nói riêng. Vì vậy thời gian đối với con người là tài sản quý giá. Đặc biệt con người sống không nằm ngoài quy luật của tự nhiên, cho nên đối với con người, thời gian luôn trôi chảy, không ở lại. Mỗi giây phút cuộc đời ta trôi qua là một sự mất mát. Thời gian không bao giờ trở lại đối với cuộc đời mỗi người. Nói như thế mới thấy giá trị to lớn của thời gian, là “món quà mà cuộc sống đã ban tặng cho mỗi con người”.

       - Không chỉ có vậy, cuộc sống của con người là một quá trình sống. Thời gian trôi đi sẽ đọng lại trong mỗi con người những hạt phù sa quý giá của cuộc sống. Những hạt phù sa ấy sẽ bồi đắp cho con người tầm cao của hiểu biết, tri thức, tầm sâu của tâm hồn, tình cảm để họ thực sự được sống ở cuộc đời này với đúng nghĩa của nó. Con người sống là tri giác, là nhận thức. Vì vậy “ mỗi ngày” mới sẽ đem đến cho con người nhiều điều lí thú và bổ ích. Họ sẽ lớn lên theo thời gian, năm tháng, sự lớn lên theo cả hai nghĩa của nó. Vì thế, “Mỗi ngày là một món quà mà cuộc sống đã ban tặng cho chúng ta”.

     - Thời gian chỉ thật sự trở thành “món quà” có ý nghĩa khi con người biết nhận thức và sở hữu nó một cách nghiêm túc và đúng đắn. Nói như Các Mác: “Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian”. Nếu biết “tiết kiệm” thời gian, con người thực sự tìm thấy một cuộc sống có ý nghĩa. Hơn thế nữa, thời gian, cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi con người biết sử dụng nó vào những hoạt động đúng đắn và bổ ích. Nghĩa là tiết kiệm thời gian phải đi liền với những hành động thực tiễn để thời gian trở thành một khái niệm sống, có giá trị triết học và nhân văn sâu sắc. ( có thể lấy những dẫn chứng từ thực tế cuộc sống).

    - Ý kiến trên là hoàn toàn đúng đắn. Nó không chỉ giúp con người hiểu được ý nghĩa của thời gian họ đang sống mà còn có giá trị nhân văn cao cả bởi từ đó nó định hướng cuộc sống cho con người. Mỗi ngày là một món quà, thì cả cuộc đời mỗi con người cũng sẽ là một món quà cao quý nhất với bản thân họ và cuộc sống, xã hội nói chung.  Vì thế nếu có ý kiến cho rằng " Vinh quang thay ta được làm người", thì cũng cần phải nói thêm rằng: để cuộc sống con người trở nên vinh quang, ta phải biết quý trọng, chắt chiu từng giây phút cuộc đời. Chỉ có như vậy, con người mới có thể tạc tên tuổi của mình và trường tồn cùng dòng chảy thời gian.

    Lưu ý: Bài viết có thể nêu thêm các ý khác, nhiều cách kiến giải khác, song phải đúng yêu cầu của đề và luận đề đang bàn luận.

     2. Về kĩ năng: Bài viết đảm bảo bố cục, lập luận chắc chắn, diễn đạt trôi chảy, mạch lạc.

    Câu 2: (12 điểm)

     

    Với đề văn này, HS cần làm rõ những ý sau đây:

    1/ Vẻ đẹp tâm hồn thi nhân thể hiện ở tình yêu say đắm mãnh liệt:

    HS phân tích những hình ảnh miêu tả cảm nhận về thiên nhiên của nhà thơ, đặc biệt chú ý tới trạng thái tâm hồn, cảm xúc, sự giao cảm mạnh mẽ, tinh tế của nhà thơ đối với cảnh vật. Với Nguyễn Trãi, thiên nhiên như là bầu bạn. Nhà thơ như mở rộng tâm hồn với tất cả các giác quan để đón nhận, thưởng thức nét kỳ diệu, ngọt ngào của thiên nhiên. Cũng cần phải nói đến tình yêu thiên nhiên ở Nguyễn Trãi có vẻ đẹp riêng, mang cốt cách, phong vị dân tộc.

    2. Vẻ đẹp tâm hồn thi nhân thể hiện ở tấm lòng yêu thương nhân dân, yêu đất nước thiết tha:

    Nguyễn Trãi yêu thiên nhiên là vậy, nhưng trên hết vẫn là tấm lòng tha thiết với con người, với nhân dân, đất nước. Thật hiếm hoi khi thấy Nguyễn Trãi có được những giây phút thanh thản. Trong bài “Bảo kính cảnh giới”, điểm kết tụ của hồn thơ Ức Trai không phải ở thiên nhiên, tạo vật mà chính là ở con người, ở cuộc sống của nhân dân. Học sinh chú ý phân tích sự chuyển đổi đột ngột của ý thơ qua sự thay đổi điểm nhìn của nhà thơ: Từ điểm nhìn về thiên nhiên qua điểm nhìn về con người, cuộc sống, đất nước; chú ý khát vọng đẹp đẽ, giàu tính nhân bản của nhà thơ.

    3. Vẻ đẹp tâm hồn thi nhân thể hiện một cách mới mẻ, độc đáo ở sức sống, tình yêu của tuổi trẻ trong sự sống nhân bản của con người (Phân tích ý tứ sâu xa của bài thơ Cây chuối). Bài thơ Cây chuối hướng về cuộc sống của con người. Nó giàu chất nhân văn. Nó giúp ta hiểu Nguyễn Trãi ở khía cạnh nhân bản cao đẹp: tình yêu – theo nghĩa thông thường và muôn thuở – của một vĩ nhân. Qua đó, Nguyễn Trãi rất con người, rất nhân bản, vì vậy ông cũng rất gần chúng ta.

    4. Vẻ đẹp của một tâm hồn hết sức tinh tế, nhạy cảm, dung dị mà cao khiết.

    Hai tác phẩm đã thể hiện một cách sâu sắc, toàn diện vẻ đẹp tâm hồn thi nhân: Một tâm hồn phong phú, tinh tế, nhạy cảm, giàu tình thương yêu, vừa mang cốt cách của một bậc đại trí, đại dũng, vừa gần gũi bởi tính nhân bản của tình người.

               Trường thpt chuyên Nguyễn Tất Thành  -  Yên Bái

                                                  

                   Đề và đáp án sơ lược gửi trại hè Hùng Vương

     

    Đề : ( Nghị luận xã hội câu 8 điểm).

    Trong kí "ở rừng" ngày 01-11-1947 Nam Cao viết :

             “ Thiên ơi! Cha sẽ mạnh dạn ném con vào cuộc đời và cuộc đời sẽ luyện con nhanh hơn cha luyện. Con sẽ không chết, con sẽ thành cứng rắn...”.

    ( Bùi Việt Thắng - VHVN 1945-1954 - NXB đại học quốc gia).

     Anh /chị suy nghĩ gì về lời tâm sự trên?

     

    Đáp án sơ lược:

    I. Yêu cầu về kỹ năng.

               Đây là dạng đề về nghị luận xã hội, đề nhằm kiểm tra, đánh giá kỹ năng viết bài nghị luận về một vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội trên các mặt: bố cục, các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh và bình luận.

    II. Yêu cầu về kiến thức:

    1. Phần giải thích: (1.0 điểm)

              Cần giải thích được vai trò, tầm quan trọng của cuộc đời  (có thể hiểu đó là cuộc sống thực tế xã hội) đối với con người.

             Cuộc đời là môi trường rất tốt để con người tôi luyện trưởng thành; là nơi con

    người tiếp thu tri thức của nhân loại.

    2. Phần phân tích, chứng minh, bình luận:

      - Khẳng định sự đúng đắn, chính xác trong cách đánh giá. (4.0 điểm)

         + Cần làm rõ vai trò quan trọng của cuộc đời  trong việc giúp con người tôi luyện và trưởng thành. Cuộc đời như là một lò luyện, nó sẽ luyện con người trở thành gang thép: gang thép về thể chất, gang thép về tinh thần. (Thí sinh cần minh hoạ bằng những hiểu biết của mình).

         +Cần làm rõ vai trò quan trọng của cuộc đời  trong việc giúp con người nhận thức tiếp thu tri thức của nhân loại. Cuộc sống thực tế của xã hội là vô cùng đa dạng, phong phú, trong cuộc sống đó, con người học tập được rất nhiều tri thức mà trong gia đình, trong nhà trường, trong sách vở không có. M.Gorki từng coi xã hội nước Nga rộng lớn là " Những trường đại học của tôi". Cuộc đời sẽ giúp con người hiểu đời hơn, hiểu người hơn và hiểu mình hơn.

              Điều đó thể hiện rất rõ ràng, cụ thể qua những câu tục ngữ, ca dao:

                                   “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”.

                                  “Đi cho biết đó biết đây

                                  ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”.

    (Thí sinh cần minh hoạ bằng những hiểu biết của mình).

        - Mặt hạn chế của vấn đề đối với con người. (1.5 điểm)

           + Nam Cao viết "Cha sẽ mạnh dạn ném con vào cuộc đời", qua từ "mạnh dạn", ông đã phần nào nói được về mặt trái của vấn đề: Không phải ai được "ném" vào cuộc đời cũng đều  "không chết", cũng đều trở thành "cứng rắn" mà có khi kết quả còn ngược lại. Đây là điều cũng dễ dàng lý giải vì cuộc đời cũng còn nhiều những cạm bẫy, nhiều cám dỗ rình rập con người, nhất là đối với những ai không có lập trường, tư tưởng vững vàng. (Thí sinh minh hoạ bằng hiểu biết của mình).

         + Chính từ mặt hạn chế này mà nhiều gia đình "nhốt" chặt con cháu trong nhà, đây cũng là một hiện tượng cần được xem xét.

    3.Liên hệ với bản thân.(1.5 điểm)

           + Khẳng định đánh giá của Nam Cao là chính xác, có cơ sở từ thực tiễn cuộc sống

          + Thấy được vai trò quan trọng của cuộc đời, từ đó có ý thức sống hoà mình, sống gắn bó với cuộc đời, có ý thức học hỏi, làm giàu tri thức cho mình, nhất là tri thức về xã hội.

           + Cần có một thái độ, một lập trường vững vàng trước cuộc sống./.

     

    Đề Thái Bình

    Trường thpt chuyên TBình

    Kỳ thi học sinh giỏi thpt chuyên trại hè Hùng Vương

    Môn: Ngữ văn – Khối 10

    Thời gian: 180 phút (không kể thời gian giao đề)

     

     

    Câu 1 (8 điểm)

              “Chỉ có khát vọng và khát vọng lớn lao mới có thể nâng tâm hồn người lên tầm vĩ đại”- Điđơrụ.

              Suy nghĩ của anh (chị) về câu núi trên.

    Câu 2 (12 điểm):

       Nhà văn Annatôle France nói: “Đọc một câu thơ nghĩa là ta bắt gặp tâm hồn một con người”.

        Câu nói trên giúp em cảm nhận được gì khi đọc những bài thơ viết về thiên  nhiên của Nguyễn Trãi.

    ---------------Hết---------------

    Hướng dẫn chấm

    Câu 1 (8 điểm)

    I. Kỹ năng:

    - Nắm chắc thao tác nghị luận một vấn đề xã hội.

    - Biết vận dụng kiến thức thực tế. Bố cục mạch lạc rõ ràng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng tiêu biểu chọn lọc, văn có cảm xúc.

    II. Kiến thức

    1. 1.     Giải thích.

    - Khát vọng là mong muốn những điều lớn lao, tốt đẹp với một sự thôi thúc mạnh mẽ.

    - Câu nói khẳng định vai trò quan trọng của khỏt vọng, đặc biệt là khát vọng lớn lao trên hành trình đi đến thành công của  mỗi người.

    1. 2.     Khẳng định vấn đề.
    2. Khát vọng là một biểu hiện tâm lí của con người mang tính tích cực.

      - Khát vọng sẽ giúp con người có một định hướng vững vàng trong suy nghĩ, hành động.

      - Khát vọng giúp con người có động lực vượt qua những khó khăn, thử thách để làm được những điều ta mong muốn.

      - Nếu không mang trong mình khát vọng, con người khó có thể cảm nhận được dư vị của thành công.

    1. Khát vọng lớn lao nâng tâm hồn con người lờn tầm vĩ đại.

    - Khát vọng lớn lao thường gắn với một ước mơ rộng lớn, mang lại giá trị cho những người xung quanh, kèm theo một kế hoạch rõ ràng, một ý chí luôn thôi thúc con người vượt qua những khó khăn trở ngại để làm được những điều họ mong muốn..

    - Khát vọng của con người không chỉ cú ý nghĩa với bản thân họ mà có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của xã hội, của đất nước, của nhân loại: khát vọng mang lại hoà bình, tự do cho dân tộc...

    1. 3.     Bàn luận mở rộng.

    - Thấy được sự khác biệt giữa khát vọng và ước muốn thông thường. Ước muốn thụng thường khó có thể trở thành hiện thực vì nó chỉ dừng lại ở việc ước và muốn.

    - Cần phân biệt rõ khát vọng và tham vọng.

    1. Bài học rút ra cho bản thân:
    2. - Phải đánh thức khát vọng cháy bỏng trong bản thân. Để có một khát vọng cháy bỏng, trước hết chúng ta cần có một lẽ sống cho riêng mình và luôn trăn trở, khao khát hành động về những giá trị sống mà ta đặt ra.

    - Khát vọng chỉ được nảy mầm trong thực tế khi nó bắt đầu bằng niềm đam mờ, lòng nhiệt tình và hành động mạnh mẽ mang lại ý nghĩa cho cuộc sống.

    III. Cách cho điểm:

    - Điểm 7-8: Bài viết nắm chắc vấn đề, đáp ứng tốt những yêu cầu của kiểu bài nghị luận xã hội, có ý kiến sắc sảo, sáng tạo, có kiến thức xã hội phong phú.

    - Điểm 5-6: Bài viết hiểu vấn đề, biết làm bài nghị luận xã hội, dẫn chứng sinh động, không mắc lỗi.

    - Điểm 3-4: Hiểu vấn đề nhưng lập luận chưa chặt chẽ, ý văn chưa sáng, còn vài lỗi về diễn đạt.

    - Điểm 1-2: Hiểu vấn đề lơ mơ, chưa làm rõ quan niệm, chưa chú ý minh hoạ bằng dẫn chứng cụ thể, diễn đạt còn nhiều lỗi.

    - Điểm 0: Không viết gì, hoặc không hiểu gì về đề.

     

    Câu 2 (12 điểm):

    I. Kỹ năng:

    - Biết cách làm bài nghị luận.

    - Bài viết có kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng, không mắc lỗi về dùng từ và ngữ pháp.

    II. Kiến thức:

    * Lưu ý:  Học sinh có thể có nhiều hướng cảm kiến giải riêng, song cần làm nổi bật những ý cơ bản sau:

    1-    Mối quan hệ giữa thơ và nhà thơ.

         2- Tâm  hồn Nguyễn Trãi qua những bài thơ viết về thiên nhiên.

           a/ Hồn thơ phong phú, đa dạng: thiên nhiên ùa vào thơ Nguyễn Trãi với nhiều cung bậc, tình cảm khác nhau.

           b/ Hồn thơ đa tình, đa cảm.

           c/ Thơ Nguyễn Trãi mang hồn dân dã.

    *(Học sinh lấy những bài thơ tiêu biểu để làm rõ hệ thống ý).

    3. Khái quát:

    - Thơ ông mang đến cho đời những bức tranh thiên nhiên giàu màu sắc. Cái đẹp đa dạng của thiên nhiên đấy chính là sự phong phú của hồn người. Tình của Nguyễn Trãi với đời, với thơ truyền cho thiên nhiên một sức sống mầu nhiệm lạ kì.

    -  Thể hiện tài nghệ của nhà thơ.

    III. Cách cho điểm

    - Điểm 11-12: Bài viết đáp ứng tốt các yêu cầu nêu trên, kiến thức phong phú. Văn viết có cảm xúc, giàu chất văn, có những kiến giải riêng sáng tạo, thuyết phục.

    - Điểm 9-10: Bài viết đáp ứng được các yêu cầu nêu trên. Còn vài sai sót nhỏ về dùng từ hoặc chính tả.

    - Điểm 7-8: Bài viết về cơ bản đáp ứng được các yêu cầu nêu trên, nhưng phần lý giải và chứng minh đều chưa thật tốt, còn sơ lược. Văn nghèo cảm xúc, mắc lỗi diễn đạt.

    - Điểm 5-6: Chưa hiểu rõ đề, các ý sơ sài, văn nghèo cảm xúc, mắc nhiều lỗi diễn đạt.

    - Điểm 3-4: Chưa hiểu rõ đề, các ý quá sơ sài, diễn đạt yếu.

    -        Điểm 0-2: Không làm được gì, hoặc không hiểu đề.

    ---------------Hết---------------

     

    ĐỀ THI ĐỀ NGHỊ MÔN NGỮ VĂN LỚP 10 – OLYMPIC HÙNG VƯƠNG

    Thời gian làm bài : 180 phỳt (Không kể thời gian giao đề)

    Năm học 2008 – 2009

    TRƯỜNG THPT CHUYÊN THÁI NGUYÊN – TỈNH THÁI NGUYÊN

     

     

    Câu 1(8 điểm ) :

    Nhà văn Nga L.Tônxtôi viết: “Trong ước mơ có mặt tốt hơn thực tại. Trong thực tại có mặt tốt hơn ước mơ. Hạnh phúc đầy đủ là biết kết hợp cả ước mơ lẫn thực tại”.

    Anh, chị hãy trình bày mối quan hệ giữa ước mơ và hành động thực tế để tạo ra hạnh phúc đầy đủ trong cuộc sống hiện nay.

    Câu 2(12 điểm ):

    Thi dĩ ngôn chí – cùng là thơ để nói cái chí nhưng Tỏ lòng ( Phạm Ngũ Lão) và Nhàn ( Nguyễn Bỉnh Khiêm) lại thể hiện những quan niệm sống khác nhau của mỗi hồn thơ.

        Phân tích làm rõ ý kiến trên.

    --------------------------------

    ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM

    Câu 1 :

    * Đáp án:

    I. Yêu cầu về kỹ năng

    - Biết cách làm một bài văn NLXH về một tư tưởng, đạo lý.

    - Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc, có cảm xúc.

    - Biết lựa chọn dẫn chứng phù hợp làm sáng tỏ vấn đề.

    II. Yêu cầu về kiến thức

    1. Giải thích ý kiến trong đề bài

    - Trong ước mơ có mặt tốt hơn thực tại: Ước mơ là những mong muốn thiết tha điều tốt đẹp trong tương lai, là điều không thể thiếu làm cho con người ta luôn vươn tới.

    - Trong thực tại có mặt tốt hơn ước mơ: Thực tại là hành động thực tế nhằm đạt một mục đích cụ thể; không có hành động thực tế thì không thể thực hiện ước mơ.

    - Hạnh phuc đầy đủ là biết kết hợp cả ước mơ lẫn thực tại : Khi có ước mơ và bằng hành động thiết thực biến ước mơ thành hiện thực thì con người sẽ đạt được mục đích, cuộc sống trở nên giàu ý nghĩa.

    ® Đối với con người ước mơ và hành động là hai vấn đề hết sức quan trọng không thể thiếu.

    2. Bình luận

    - Ý kiến hoàn toàn đúng: Ước mơ làm con người lớn lên, có ý chí để vươn tới; hành động khiến ước mơ trở thành hiện thực; ước mơ càng tha thiết thì hành động càng có ý nghĩa; ước mơ và hành động là hai mặt không thể tách rời.

    - Lấy dẫn chứng trong thực tế hoặc sách vở làm sáng tỏ vấn đề.

    * Biểu điểm :

    + Điểm 7 – 8 : Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên.

    + Điểm 5 – 6 : Đáp ứng tương đối đấy đủ các yêu cầu, có thể mắc một vài lỗi nhỏ về diễn đạt.

    + Điểm 3 – 4 : Đáp ứng về cơ bản các yêu cầu, có thể mắc một số lỗi về diễn đạt nhưng vẫn rừ ý.

    + Điểm 1 – 2 : Không hiểu đề, trình bày lan man.

     

    Câu 2 : * Đáp án :

    I – Yêu cầu về kỹ năng :

    - Biết cách làm một bài nghị luận văn học.

    - Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc, có cảm xúc.

    - Biết chọn và phân tích dẫn chứng hợp lý.

    II – Yêu cầu về kiến thức:

    1. Nét giống nhau (ý phụ)

    - Hai nhà thơ sống ở thời trung đại, đều là những con người có lối sống đáng trân trọng.

    - Đều bày tỏ cái chí, quan niệm sống qua thơ.

    2. Nột khác nhau (ý chính)

    a) Phạm Ngũ Lão :

    - Thời đại : sống ở giai đoạn thịnh Trần, xã hội phong kiến phát triển, có nhiều mặt tiến bộ.

    - Con người :

      + Ôm ấp hoài bóo, khát vọng tận hiến cho giang sơn xã tắc (phân tích thơ).

      + Bằng hành động cụ thể thực hiện hoài bão (phân tích thơ).

    b) Nguyễn Bỉnh Khiêm :

    - Thời đại : nhà nước phong kiến không còn vai trò tích cực, xã hội rối ren, không thuận lợi cho sự phát triển nhân cách.

    - Con người : Chọn lối sống ẩn dật để giữ gìn khí tiết ® nâng thành triết lý sống “nhàn” : sống thuận theo tự nhiên, hòa hợp với tự nhiên, đối lập với danh lợi để giữ cốt cách thanh cao, đó là lối sống đẹp của nhiều trí thức phong kiến (phân tích thơ).

    3. Lý giải sự khác biệt :

       Hai lý tưởng, hai quan niệm sống khác nhau xuất phát từ hai cách ứng xử của nhà nho trước thời cuộc: khi thời thịnh vua sáng thì bề tôi ra sức phù trợ, còn khi thời suy, vua không được lòng dân, xã hội loạn lạc thì kẻ sĩ đi ở ẩn, giữ cho tâm hồn trong sạch.

    * Biểu điểm :

    + Điểm 11 – 12 : Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, bài làm có sự sáng tạo.

    + Điểm 9 – 10 : Đáp ứng khá đầy đủ các yêu cầu, văn viết có cảm xúc, có thể mắc một vài lỗi nhỏ về diễn đạt.

    + Điểm 7 – 8 : Đáp ứng về cơ bản các yêu cầu, có thể mắc một vài lỗi nhỏ về diễn đạt nhưng vẫn rừ ý.

    + Điểm 5 – 6 : Đáp ứng được khoảng một nửa số ý.

    + Điểm 3 – 4 : Chưa đạt được các yêu cầu cơ bản, mắc nhiều lỗi diễn đạt.

    + Điểm 1 – 2 : Chưa hiểu đề hoặc viết lan man.

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Khuất Văn Hiếu @ 22:33 17/09/2024
    Số lượt xem: 3400
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Thong tin